Tháng 6 : Yêu thương và hy vọng (x. 1Cr13,7)

Ngày 13 tháng 5 vừa qua nhằm ngày lễ Đức Mẹ tại Fatima Đức Thánh Cha đã công bố Năm Thánh 2025 là năm làm chứng cho niềm hy vọng, nhằm khơi dậy niềm hy vọng trong một thế giới bị xâu xé bởi kinh nghiệm về chiến tranh, tuyệt vọng và thách thức của các công nghệ mới mà Đức cố Hồng Y Phanxico đã từng nói đến trong cuốn Đường Hy vọng : « Trong vài chục năm, nhân loại đã tiến bộ kỹ thuật và khoa học hơn nhiều thế kỷ. Nhân loại đầy đủ sức mạnh khủng khiếp, có thể tự sát với vũ khí hạch tâm được. Nhân loại đầy đủ phương tiện khổng lồ, hầu như no nê không thiếu gì nữa. Nhân loại cảm thấy làm được mọi sự, nhưng không biết tại sao mình sống, mình đi về đâu, tương lai thế nào ? Nhân loại đang trải qua một cơn khủng hoảng hy vọng »[1].

Và những gì chúng ta xem hàng ngày trên truyền hình, đọc trên báo chí, hay lướt trên các trang mạng xã hội cũng phần nào chứng mình điều này : tin « mừng » về sự sống, về tình yêu thương, về sự xây dựng thăng tiến con người… thì ít, còn tin « tức » về sự chết, về chiến tranh, hận thù, cướp bóc, gian dối, …thì nhiều vô kể. Hay nói cách khác theo ngôn ngữ của Đức Cố Giáo Hoàng Benêđictô XVI, con người hôm nay « họ sống “không có Thiên Chúa” và hệ quả là họ thấy mình sống trong một thế giới tối tăm, đối diện với tương lai mịt mù ».[2]                                                  

Đối diện với thực tại này, chắc hẳn con người không thể sống thiếu niềm hy vọng, đặc biệt là người nữ tu của Chúa, chúng ta không những tin vào chương trình tốt đẹp mà Chúa dành cho chúng ta và mong chờ về một điều gì tích cực trong tương lai, mà chúng ta còn cần phải giữ vững niềm hy vọng để thắp sáng niềm tin cho anh chị em xung quang ta đang trong đà gần như mất phương hướng. Vậy, đâu là sự cần thiết của niềm hy vọng cho con người hôm nay? Niềm hy vọng phát xuất từ đâu ? đâu là mẫu gương của niềm hy vọng cho đời sống đức tin của chúng ta?

Hy vọng, động lực vượt qua khó khăn

Kitô giáo là tôn giáo của niềm hy vọng. Các kitô hữu chúng ta là những người lữ hành trên đường hy vọng để tiến về Nước Trời. Vì thế, nên cuộc sống của chúng ta là một hành trình đầy thử thách và khó khăn, cần có sự kiên nhẫn và quyết tâm hy vọng vượt qua. Tuy nhiên, để đạt được những thành quả tuyệt vời ấy, không chỉ cần ý chí mạnh mẽ mà còn cần có tâm hồn lạc quan, hy vọng vào một tương lai tốt đẹp. Vì hy vọng là động lực cho cuộc sống, giúp con người vượt qua khó khăn và thách thức hiện tại, hướng tới mục tiêu tươi sáng hơn. Hy vọng còn là sức mạnh giúp chúng ta sống, tồn tại và biến những điều tưởng chừng như không thể thành có thể, biến những khó khăn trở thành cơ hội và những rắc rối trở thành bài học quý giá, và đôi khi, chỉ cần một chút hy vọng cũng đủ thay đổi cuộc sống của chúng ta. Người hy vọng trong mọi việc và mọi hoàn cảnh là người có tính lạc quan, nhìn thấy mặt tích cực trong hoàn cảnh khó khăn, thấy tia sáng trong chỗ bế tắc. Điều này còn đươc đức Cố Hồng Y Phanxicô nhấn mạnh khi mời gọi chúng ta tiến thêm một bước nữa trong việc làm chứng cho niềm hy vọng, và mỗi người cần ý thức mình « là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng »[3].

Nói đến hy vọng là nói đến điều người ta chưa có nhưng tin là sẽ đến, sẽ có. Hy vọng là điều rất cần cho đời sống. Nếu sống mà không có hy vọng, chúng ta sẽ không có nghị lực hay hăng hái để làm điều gì cả. Người học trò hy vọng một ngày kia mình sẽ ra trường với mảnh bằng trong tay và có công việc làm ổn định, thu nhập tốt. Các bậc cha mẹ nuôi con hy vọng rằng con mình lớn lên sẽ là người tốt, hữu dụng cho gia đình, thành đạt trong xã hội. Người đau ốm hy vọng được chữa lành. Người đi làm việc hay buôn bán hy vọng sẽ được tiền lương hay lợi tức để nuôi sống gia đình… Tất cả chúng ta dù trong hoàn cảnh nào, dù làm công việc gì cũng cần có hy vọng để tiếp tục cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình. Như vậy, có thể nói hy vọng là chất xúc tác không thể thiếu giúp ta sống và hoàn thành trách nhiệm của mình một cách hoàn hảo nhất. Vậy đâu là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta ?

Có yêu thương thì sẽ có hy vọng

Niềm hy vọng Kitô giáo đã cho chúng ta thấy ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế, khi con người xa ngã phạm tội, Thiên Chúa đã không bỏ mặc con người nhưng hứa ban Đấng Cứu Độ để giải thoát con người (St 3, 13 tt). Vâng, vì yêu thương, Thiên Chúa đã sai Con Một của  Người đến trần gian, để những ai tin vào Con của Người được ơn cứu độ (x. Ga 3,16).

Trong Thông điệp về Niềm tin và hy vọng Kitô giáo – Spe Salvi, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đồng hoá, « đức tin là hy vọng ». Niềm hy vọng lớn nhất của Kitô giáo là niềm hy vọng được phục sinh cùng với Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng sự dữ và thần chết, Đấng đã mở ra cho con người một niềm hy vọng lớn lao, để nhờ tin vào Người mà chúng ta hy vọng sẽ có được sự sống đời đời (x. Ga 3,36). Tình yêu ấy có sức mạnh hơn mọi hình thức sức mạnh của thế giới thụ tạo. Mạnh đến mức thánh Phaolô đã phải thốt lên : « Cho dầu sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loại thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kito Giêsu, Chúa chúng ta » (Rm8, 38-39). Quả thực, hy vọng mà không có tình yêu là hy vọng phiến diện ; tình yêu mà không có hy vọng là tình yêu không bền vững. Điều này có nghĩa rằng hy vọng và tình yêu không thể tách rời nhau. Hy vọng nâng đỡ tình yêu và tình yêu củng cố hy vọng.

Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ điều này qua cái chết và sự Phục sinh của Người. Cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu đã biến đổi tội lỗi của chúng ta thành ơn tha thứ, cái chết của chúng ta thành sự sống lại, sự sợ hãi của chúng ta thành niềm tin tưởng. Điều này được thánh Augustino lặp lại khi viết : « Đó là tại sao chính trên thập giá đã nảy sinh và luôn luôn nảy sinh ra niềm hy vọng của chúng ta; đó là tại sao với Chúa Giêsu tối tăm của chúng ta có thể được biến đổi thành ánh sáng, mọi thất bại thành chiến thắng, mọi vỡ mộng thành hy vọng. Mọi sự, phải, mọi sự. Niềm hy vọng thắng vượt tất cả, bởi vì nó nảy sinh từ tình yêu thương của Chúa Giêsu, là Đấng đã trở thành như hạt lúa trong lòng đất, và đã chết để trao ban sự sống, và niềm hy vọng đến từ sự sống tràn đầy đó ». Chính vì yêu mà Chúa đã đến, đã chịu khổ hình để chúng ta được tham dự vào sự sống thần linh của Người. Và để con người luôn can đảm tiến bước trên đường hy vọng, Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta một nhân chứng của niềm hy vọng gần gũi với chúng ta hơn cả, chính là Đức Maria, Mẹ Người.

Mẹ Maria, Ngôi sao hy vọng

Trong nhiều giáo huấn và suy niệm về Đức Maria, Đức Bênêđictô XVI đã để lại nhiều đề tài về hy vọng. Tuy vẫn duy trì tước hiệu “Mẹ hy vọng”[4], nhưng ngài thích tước hiệu “Stella spei[5] (ngôi sao hy vọng). Trong bài giảng tại Lộ-Đức ngày 14-9-2008, ngài đã giải thích lý do ấy:  “Sứ điệp của Mẹ Maria là một sứ điệp hy vọng cho hết mọi người thời đại chúng ta thuộc bất kỳ nước nào. Tôi thích kêu cầu Đức Maria như là Ngôi sao hy vọng. Trên con đường đời, thường là tăm tối, Mẹ là ánh sáng hy vọng soi chiếu và hướng dẫn con đường của chúng ta. Nhờ lời “xin vâng”, nhờ sự quảng đại trao hiến toàn thân mình, Mẹ đã mở cho Thiên Chúa cánh cửa của thế giới và của lịch sử chúng ta. Và Mẹ mời gọi chúng ta hãy sống như Mẹ trong một niềm hy vọng kiên cường, bằng cách khước từ nghe theo tiếng của những người nói rằng chúng ta là nô lệ của số mệnh. Nhờ sự hiện diện mẫu tử, Mẹ đồng hành với chúng ta giữa những biến cố của cá nhân, gia đình, quốc gia. Hạnh phúc thay những người đặt tin tưởng vào Đấng mà vào lúc dâng hiến mạng sống vì phần rỗi chúng ta, đã ban cho chúng ta Thân mẫu của Người để trở thành Thân mẫu của chúng ta”.

Và trong bài diễn từ khi đến viếng tượng Đức Maria vô nhiễm tại Piazza di Spagna ở Rôma ngày 8-12-2007, ngài đã tự hỏi: “Người Mẹ chúng ta trên trời đã chẳng mời gọi chúng ta hãy tránh điều xấu và làm điều lành khi tuân giữ luật Thiên Chúa được khắc ghi trên tâm hồn mỗi người Kitô hữu đó sao? Người đã duy trì lòng hy vọng giữa cơn thử thách kinh hoàng, Người đã chẳng yêu cầu chúng ta đừng hoảng hốt khi đau khổ và sự chết đến gõ cửa nhà chúng ta đó sao? Người đã chẳng yêu cầu chúng ta hãy tin tưởng nhìn về tương lai đó sao? Đức Trinh nữ Vô nhiễm đã chẳng khuyên nhủ chúng ta hãy trở thành anh chị em với nhau, cùng nhau xây dựng một thế giới công bình hơn, liên đới hơn, hòa bình hơn đó sao? Đúng thế, (…) Giáo hội cho thế giới thấy Đức Maria như dấu chỉ của hy vọng vững chắc và của cuộc chiến thắng vĩnh viễn của thiện trên ác”[6].

Là con cái Mẹ, mang thánh hiệu Mẹ, chị em Mân Côi học nơi Mẹ sự kiên cường hy vọng nơi Chúa. Khi xưa Mẹ đã sát cánh kề bên những đau khổ của Con mình. Mẹ nâng đỡ bằng ánh mắt và che chở bằng con tim. Mẹ chia sẻ nỗi đau ấy, nỗi khốn cùng ấy, nhưng Mẹ không để đau khổ đè bẹp, nhấn chìm mình. Mẹ can đảm đứng vững như là người canh giữ niềm hy vọng. Sau cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, nhiều môn đệ sợ hãi và thất vọng, không dám mơ ước, chứ đừng nói đến việc dấn thân, hình ảnh hai người môn đệ trên đường Emmau (Lc 24,13-35) là một ví dụ điển hình. Mẹ đã ở đó với họ, đón nhận và nâng đỡ họ với tất cả những yếu đuối và mỏng manh của kiếp người. Vì thế, trên bước đường lữ hành trần gian này, chắc hẳn chúng ta sẽ gặp phải những chướng ngại vật, những khó khăn thử thách, hiểu lầm làm chúng ta nản chí, thất vọng và chùn bước, nhưng chúng ta hãy nhìn lên Mẹ, ngôi sao hy vọng để xin Mẹ nâng đỡ , hướng dẫn và cùng Mẹ can đảm bước tiếp trong hành trình theo Chúa của chúng ta.

Tuy nhiên, niềm hy vọng chỉ có thể được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện. Chính Thánh Phaolô đã luôn nhắc nhở chúng ta về điều này: « Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện » (Rm12, 12). Hy vọng được diễn tả qua đời sống cầu nguyện liên lỉ, đời sống kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu như Mẹ. Bao lâu con người còn kiên nhẫn cầu nguyện, bấy lâu con người còn hy vọng. Tương tự như vậy, bao lâu con người còn hy vọng, bấy lâu con người còn cầu nguyện như Đức Hồng Y Thuận đã viết : «người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của lời cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài »[7].

Là nữ tu Mân Côi, trên bước đường hy vọng tiến về nhà Cha, dù bất cứ hoàn cảnh nào dù làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng phải sống trong niềm hy vọng và tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa: “Chỉ có Thiên Chúa là niềm hy vọng vững vàng, nên chúng ta bất chấp mọi nỗi gian khổ và thất bại. Đấng đã yêu thương chúng ta và yêu thương “đến cùng”, cho đến khi mọi sự được hoàn tất” (x. Ga 13,1; 19,30). Đặt lòng tin nơi Chúa và sống trong sự dẫn dắt của Chúa, hy vọng của chúng ta mới có một nền tảng vững chắc. Chúng ta không chỉ hy vọng ở lòng phục thiện của người có lỗi nhưng hy vọng chắc chắn vào quyền năng của Chúa trong việc tái tạo tấm lòng con người.

Ước mong sao từng phút giây của chị em Mân Côi là một bài ca bác ái yêu thương để cho mọi người gặp gỡ hay tiếp xúc đều tìm được nguồn hy vọng. Mỗi chị em đều có một sứ mạng, một trách vụ mà Thiên Chúa đặt để nơi mình qua Hội Dòng. Chúng ta cùng nhau chu toàn bổn phận, trách vụ của mình dưới sự đồng hành của Mẹ để thực sự trở nên chứng nhân của niềm hy vọng và thắp sáng niềm tin cho con người trong thế giới hôm nay.

Trong tháng này, chị em hãy tự hỏi : đâu là niềm hy vọng của tôi ?  Đâu là tương lai mà Thiên Chúa muốn tôi sống và dấn thân để biến hy vọng ấy thành hiện thực? Chúng ta có phải là những chứng nhân hy vọng mà Đức thánh Cha đã mời gọi sống trong năm thánh sắp tới ?

M-Al. Đinh Thị Xuyến, FMSR.

[1] Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận, Đường hy vọng, số 958.

[2] Đức Thánh Cha Benêđictô XVI, Thông điệp SPE SALVI, số 2.

[3] Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận, Đường hy vọng, số 950.

[4] Thông điệp Spe salvi, số 50.                                                                                    

        

[5] Thông điệp Spe salvi, số 49-50.

[6] Diễn từ khi đi kính viếng Đức Mẹ Vô nhiễm, Roma, Piazza di Spagna, 8-12-2007

[7] Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận, Đường hy vọng, số 964.