NIỀM VUI MÙA CHAY TỊNH

Trong mùa chay, ba việc đạo đức chúng ta thường làm là: ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Lời Chúa hôm nay tập trung vào việc ăn chay. Theo truyền thống công giáo, chúng ta chỉ ăn chay trong hai ngày, Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. Một vài dòng tu hoặc những người công giáo đạo đức ăn chay và kiêng thịt vào mỗi thứ sáu. Khi nói đến ăn chay, chúng ta nghĩ ngay đến việc “ăn ít lại”. Cụ thể hơn, thay vì ăn ngày ba bữa thì chúng ta ăn hai bữa, có người ăn một bữa rưỡi hoặc một bữa hoặc thậm chí không ăn gì trong ngày, chỉ uống nước lã. Tóm lại, khi nói đến ăn chay là chúng ta nói đến thức ăn, thức uống, là nói đến những thứ từ bỏ mang tính cách bên ngoài.

Trong bài đọc 1 hôm nay, Ngôn sứ Isaia nói đến một loại ăn chay không mang tính bên ngoài, nhưng mang tính nội tâm. Đây là loại ăn chay mà Đức Chúa ưa thích. Ngôn sứ Isaia cho chúng ta hay rằng: Đức Chúa không thích loại ăn chay mang tính bên ngoài vì “ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách” (Is 58, 3-4). Cách ăn chay mà Đức Chúa ưa thích là: “mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm, là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục (x. Is 58, 6-7).

Qua những lời của Ngôn sứ Isaia, chúng ta nhận ra rằng: Thật không phải khi chúng ta ăn chay mà lại giận hờn, ghen tỵ và nói xấu người khác; thật không phải khi chúng ta ăn chay mà gian lận, nói dối; thật không phải khi chúng ta ăn chay mà sống đời sống bất công, không tha thứ, không yêu thương. Loại ăn chay bỏ một bữa ăn hoặc một ngày không ăn thì dễ hơn loại ăn chay bỏ tật xấu của mình. Mục đích của ăn chay là để tỏ lòng sám hối, là để đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa và người khác. Nhưng khi ăn chay mà chúng ta không sống yêu thương tha thứ, sống xa cách anh chị em của mình, thì chúng ta đã làm mất ý nghĩa của việc ăn chay. Vì vậy, trong bài Tin Mừng hôm nay Thánh Mátthêu giải thích cho các môn đệ của Gioan Tẩy Giả về ý nghĩa của ăn chay.

Chúng ta hiểu đối thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ của Gioan về việc ăn chay trong bài Tin Mừng hôm nay tốt hơn khi chúng ta đặt cuộc đối thoại này trong bối cảnh lớn hơn: bối cảnh nói về quyền bính và lời mời gọi làm môn đệ của Chúa Giêsu (8, 1-9, 38). Đoạn Tin Mừng hôm nay nằm ngay sau đoạn nói về việc Chúa Giêsu gọi ông Mátthêu, một người thu thuế và dùng bữa ở trong nhà ông với tất cả những người thu thuế khác và những người tội lỗi. Trong mẫu chuyện đó, những người Pharisêu hỏi các môn đệ của Chúa Giêsu về việc Ngài ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi; còn trong bài Tin Mừng thì các môn đệ của Gioan đến hỏi Chúa Giêsu về việc các môn đệ của Ngài không ăn chay như họ và những người Pharisêu. Chúng ta cùng nhau phân tích bài Tin Mừng hôm nay để khám phá ra điều Chúa muốn nói với chúng ta và muốn chúng ta đem ra thực hành.

Như chúng ta đã trình bày, bài Tin Mừng hôm nay rất ngắn và nằm trong bối cảnh tranh luận về việc ăn chay (Mt 9, 14-17). Cuộc tranh luận này gồm có cuộc đối thoại mang tính tranh luận với các môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mt 9, 14-15) và hai dụ ngôn nhỏ Chúa Giêsu sử dụng để trả lời về lý do tại sao các môn đệ của Ngài không ăn chay (Mt 9, 16-17). Sợi dây nối kết hai phần chính là sự khác biệt mà sự hiện diện của Chúa Giêsu mang lại. Đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta không khỏi không thắc mắc: Tại sao các môn đệ của Gioan Tẩy Giả không hỏi về chính việc ăn chay của Chúa Giêsu, nhưng lại hỏi về việc ăn chay của “môn đệ Ngài.” Điều này cho thấy: Chúng ta không nghi ngờ gì về việc các môn đệ của Chúa Giêsu là những người Do Thái như môn đệ của Gioan Tẩy Giả và những người Pharisêu, nhưng khi theo Chúa Giêsu, họ đã sống khác, ngay cả trong việc tuân giữ luật ăn chay. Nói cách khác, khi theo Chúa Giêsu, họ không còn ăn chay theo truyền thống của người Do Thái như những người Pharisêu và các môn đệ của Gioan làm. Như vậy, Chúa Giêsu đem lại một cái gì đó thật mới mẻ trong việc tôn thờ Thiên Chúa, trong việc thực hành các việc đạo đức và nhất là trong cuộc đời của họ. Hay nói đúng hơn, Chúa Giêsu mang lại ý nghĩa đích thật của các việc đạo đức mà Thiên Chúa muốn, chứ không phải là tập tục của các tiền nhân. Việc có Chúa Giêsu trong cuộc đời của chúng ta có mang lại sự mới mẻ gì không? Hay chúng ta cũng sống một lối sống như bao nhiêu người khác? [Còn những người sống đời thánh hiến, chúng ta có sống tốt hơn và thánh thiện hơn so với khi chúng ta mới bước vào đời tu không?]. Việc đi theo Chúa Giêsu phải mang lại sự đổi mới không ngừng trong lời nói và hành động của những người theo Ngài.

Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn để giải thích cho các môn đệ của Gioan Tẩy Giả về việc các môn đệ của Ngài không ăn chay. Ngài sử dụng hình ảnh tiệc cưới để trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay” (Mt 9, 15). Trong câu trả lời, Chúa Giêsu sử dụng chữ “than khóc.” Theo Thánh Mátthêu, việc ăn chay được hiểu là dấu hiệu của việc than khóc cho tội lỗi của mình [điều xảy ra trong trường hợp của Mátthêu mà Ngài mới gọi làm môn đệ được trình thuật trước đó]. Chúa Giêsu so sánh các môn đệ của Ngài như là những khách dự tiệc của chàng rể, tức là họ được mời gọi đến tham dự một sự kiện mang đậm nét yêu thương và vui tươi. Áp dụng vào trong cuộc sống của chúng ta: Chúng ta là những môn đệ của Chúa Giêsu, là những người sống vui tươi và yêu thương. Người khác có thấy nét vui tươi trên khuôn mặt và tình yêu thương trong lời nói và cử chỉ của chúng ta không?

Cuối cùng, theo các chuyên gia Kinh Thánh, khi sử dụng từ “chàng rể,” các môn đệ của Gioan hiểu ngay Chúa Giêsu đang nói đến ai, Ngài đang nói đến chính Thiên Chúa. Hình ảnh “chàng rể” là hình ảnh được các ngôn sứ sử dụng để nói về Thiên Chúa là chàng rể, còn Israel là tân nương. Điều này được xác nhận bởi công thức: “Nhưng khi tới ngày”. Đây là công thức thường được các ngôn sứ sử dụng để nói đến “ngày của Thiên Chúa,” khi Thiên Chúa sẽ cưới Israel về. Trong câu này, Chúa Giêsu nói đến hai khoảng thời gian: thời gian của Ngài và sau thời gian của Ngài. Trong khoảng thời gian chờ đợi, các môn đệ sẽ đối diện với nhiều bách hại và thử thách, lúc đó họ sẽ ăn chay để khóc than cho những vấp ngã của họ khi không chiến thắng thử thách và bách hại. Như vậy, trong câu trả lời của Ngài, Chúa Giêsu nói đến thực tại mà người môn đệ phải đối diện, đó là, họ phải chịu nhiều đau khổ như Chúa Giêsu đã chịu. Để đứng vững, họ phải giữ chay lòng, tức là, sống đời sống yêu thương, vui tươi, đổi mới và tha thứ.

Hoa Ven Đường

Check Also

Ở LẠI TRONG CHÚA GIÊSU

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ biết sự …