NGƯỜI NỮ TU MÂN CÔI SỐNG VÂNG PHỤC

Nt. M.Priscilla Trần Thị Thơm, Fmsr.
Theo Thánh Tôma, trong ba lời khấn: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục thì “lời khấn vâng phục là lời khấn cao trọng hơn cả”; Khi khấn vâng phục người tu sĩ dâng cho Thiên Chúa điều cao quý nhất là ý chí, tự do và quyền định đoạt về đời sống[1]. Trong thực tế ngày hôm nay, giữa một thế giới đang đề cao sự tự do để sống phóng khoáng, đề cao cái tôi (chủ nghĩa cá nhân) để sống theo ý riêng cùng với những ước vọng của quyền lực, địa vị, khoái lạc và hưởng thụ thì việc sống các lời khuyên Phúc Âm, nhất là lời khấn vâng phục quả thực là một thách đố lớn đối với các tu sĩ sống đời thánh hiến. Vì chính khi đề cao chủ nghĩa cá nhân, người tu sĩ sẽ có khuynh hướng tách mình ra khỏi tha nhân để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình. Bởi sự kiêu căng, người tu sĩ chỉ tập trung vào “cái tôi” mà bỏ quên sự khiêm nhường; và kiêu căng chính là nguyên nhân phá vỡ mối tương quan của tu sĩ đối với Thiên Chúa cũng như tha nhân. Quả thực, “cái tôi” và sự “kiêu căng” là một vật cản lớn làm cho tu sĩ không thể thực thi lời khấn vâng phục một cách trọn vẹn. Vậy để có thể sống tốt lời khấn vâng phục, người tu sĩ phải làm gì? Tại sao họ phải vâng phục? Vâng phục nghĩa là gì?
1. Vâng phục là gì?
Theo nghĩa tôn giáo, vâng phục là thái độ chăm chú lắng nghe Lời Thiên Chúa mời gọi, tìm kiếm, nhận ra và thực thi thánh ý của Người, cho dù thánh ý đó được diễn tả dưới bất cứ hình thức nào[2]. “Nhờ khấn giữ đức vâng phục, các tu sĩ tận hiến ý muốn mình như của lễ hiến dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó họ được kết hợp với ý muốn cứu rỗi của Người cách kiên trì và chắc chắn hơn” (PC 14). Nói về điều này, Thánh Têrêsa HĐ khẳng định: “Không có con đường nào mang lại mau lẹ sự hoàn hảo cho bằng con đường vâng phục”. Đức vâng phục “là một trong những yếu tố chính yếu và không thể thiếu của đời sống tu sĩ. Không có đức vâng phục thì không thể có đời sống chung, không có bác ái và tình huynh đệ đích thực”[3]. Chân phước James Alberione cũng nói: “Đặt mình tuân phục Thiên Chúa nghĩa là dâng tâm hồn, thời gian và thân xác cho Ngài. Khi ta hoàn toàn tuân phục Thiên Chúa, Ngài sẽ bắt mọi sự tùng phục ta”. Như thế, vâng phục là một nhân đức cao trọng. Đó là yếu tố cần thiết giúp tu sĩ trở nên người môn đệ đích thực theo gương Đức Giêsu – Đấng đã đến trần gian để thực thi thánh ý Chúa Cha cách trọn hảo: “Xin đừng theo ý con mà theo ý Cha” (Lc 22, 42).
2. Tại sao tu sĩ phải vâng phục?
Những trang đầu của Kinh Thánh, Cựu Ước đã thuật lại cho chúng ta kinh nghiệm đau thương khi nguyên tổ loài người bất tuân đối với Thiên Chúa; họ muốn dành quyền định đoạt điều lành điều dữ theo ý mình, muốn đạp đổ trật tự mà Tạo hóa đã đặt ra nên họ phải tự chuốc lấy cái chết cho mình và con cháu; rồi sau đó, con người lại quay ra hục hặc chém giết nhau. Đó là điều mà sách Sáng thế nhận xét qua sự tích Cain với Abel, Giacop với Esau, hoặc tháp Babel (x. St 4, 1-11, St 32,1-33,20).
Tiếp đó, sách Đệ Nhị Luật cũng nhấn mạnh việc con người phải vâng nghe lời Thiên Chúa vì con người được tạo dựng theo giống hình ảnh Ngài và Ngài chính là chủ tể vạn vật (x.Đnl 6,4). Ngoài thái độ vâng phục căn bản của hết mọi người cần phải có đối với Đấng Tạo hóa, Cựu ước cũng nhắc đến sự vâng phục của Israel đối với Giao ước: “Mọi điều Đức Chúa truyền chúng tôi sẽ thi hành và sẽ nghe theo” (Xh 24,7). Điều này không phải là sự vâng phục của nô lệ với chủ nhân, nhưng là sự trung thành, chung thủy của tình yêu: “yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn và yêu anh em như chính mình”. Như vậy, sự tuân phục luật lệ của Thiên Chúa không làm hạ giá nhưng mang lại sự sống cho con người, giúp người tu sĩ sống triển nở và dồi dào hơn.
Trong Tân ước, Tin Mừng Nhất Lãm nhìn sự vâng phục như cách thức để thi hành ý Chúa Cha và khẳng định những ai vâng lời Chúa Cha thì thuộc gia đình Thiên Chúa (x.Mt 12, 46-50; Mc 3, 31-35; Lc 8,19-21). Họ là những người khôn xây nhà trên đá và là người có phúc (Lc 11,28).
Với Thánh Gioan, Ngài nhìn sự tuân phục thánh ý Chúa Cha của Đức Giêsu là khuôn mẫu cho sự tuân phục nơi người Kitô hữu (Ga 4,31-33) và Ngài gắn kết sự tuân phục trong lòng mến (Ga 14,21-31). Giống như Đức Giêsu đã tuân phục Chúa Cha thế nào thì người Kitô hữu cũng được mời gọi sống theo khuôn mẫu của Đức Kitô như Ngài kêu mời: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy” (Ga 15,9-10).
Theo Thánh Phaolo, Ngài nhìn nhận tuân phục cũng có nghĩa là tin (x.Rm 1,5; 16,26), tin những gì Chúa đã mạc khải và cố gắng sống theo những đòi hỏi của đức tin. Thánh nhân nhấn mạnh: việc sống đức tin sẽ đem lại ơn cứu rỗi đời đời cho con người (Rm 3,22). Ngài xác quyết sự vâng phục của Đức Giêsu là mẫu gương cho mọi Kitô hữu: “Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8, Ga 8,28-29). Sự vâng phục của Đức Giêsu là vâng phục của một người con thảo hiếu với tình yêu mến: Người luôn luôn tìm kiếm thánh ý Chúa Cha, chu toàn sứ mệnh Chúa Cha trao phó (Lc 2, 49; Ga 6, 38). Như vậy, chính nhờ sự vâng phục mà Đức Giêsu đã mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.
Từ những luận điểm trên, chúng ta có thể hiểu rằng sự vâng phục theo tinh thần của Đức Giêsu không phải là từ bỏ ý muốn riêng mình, nhưng là dâng tất cả ý muốn và tự do cho ý muốn và chương trình của Chúa Cha (x.Dt 10,7). Sự vâng phục của Đức Giêsu chính là nền tảng và mẫu gương cho sự vâng phục của tu sĩ. Do vậy, khi khấn vâng phục, chúng ta đặt lý tưởng đời mình nơi việc “đi theo” và “bắt chước Đức Kitô”. Nhờ đó, chúng ta được tham dự vào cuộc hiến tế của Người cũng như được mời gọi hãy mặc lấy những tâm tình và cách sống vâng phục như Đức Kitô: vâng phục vì thảo hiếu với Chúa Cha, vâng phục vì phục vụ Nước Trời.
Khi nói về lời khấn vâng phục, sắc lệnh Đức Ái Trọn Hảo – Perfectae Caritatis mời gọi: “các Tu sĩ phải lấy lòng tôn kính khiêm nhường mà phục tùng các Bề Trên theo Quy luật – Hiến pháp trong tinh thần đức tin và đức mến đối với thánh ý Chúa, đem hết khả năng trí hiểu và ý muốn, tận dụng hết ơn Chúa và năng khiếu để chu toàn các mệnh lệnh và thực thi các trách nhiệm đã ủy thác cho mình… Đức Vâng Lời của bậc Dòng chẳng những không làm giảm bớt nhân vị chút nào mà còn đưa người tu sĩ đến trưởng thành hơn, vì làm cho sự tự do của con cái Chúa được phát triển thêm” (PC, 46).
Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium cũng nhấn mạnh: Nhờ đức vâng phục, chúng ta được liên kết cách rất bền bỉ và chắc chắn với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Bởi vậy, chúng ta phải bắt chước Đức Giêsu Kitô, Người đã đến để thực thi ý muốn của Chúa Cha (x. LG, 14). Có thể nói, điều đánh động nhất trong đời sống Đức Giêsu Kitô là sự vâng phục vô điều kiện của Người với Chúa Cha (x.Ga 6,38; 4,34; Lc 22,43). Thái độ này của Đức Giêsu giúp chúng ta hiểu tốt hơn sự vâng phục của Đức Maria và sự vâng phục của đời tu. Sự vâng phục của Đức Maria, giống như đức tin của Mẹ đã trải qua nhiều những thời kỳ khác nhau. Từ một đức tin Do Thái chuyển sang một đức tin Kitô hữu và cuối cùng tới đức tin mang tính Giáo hội. Nói cách khác, sự vâng phục của Mẹ là ở trong mối tương quan sâu xa với đức tin. Từ lời đáp trả của Đức Maria trong Tin Mừng, chúng ta có thể định nghĩa tất cả con đường tu đức của Mẹ: Mẹ hoàn toàn sẵn sàng với ý muốn của Thiên Chúa; Mẹ thưa “xin vâng” và phó mình trọn vẹn trong bàn tay Thiên Chúa; Mẹ để cho Chúa dẫn dắt cuộc đời theo thánh ý Ngài (x. Lc 1,38). Vì thế, Mẹ trở thành Mẹ của Đấng đã được thánh hiến và được sai đi, trong lời xin vâng và ngợi khen của Mẹ (x. PI, 20). Mẹ là khuôn mẫu hoàn hảo của thái độ và lời đáp trả mà chúng ta phải có trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Đối với các tu sĩ, lời “fiat” của Đức Maria là bài học và gương mẫu tuyệt hảo về sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Trọn cuộc đời Mẹ là lời xin vâng trong mọi biến cố. Như lời xin vâng của Đức Maria, lời xin vâng của mỗi tu sĩ với Chúa Cha phải là sự tín thác hoàn toàn, đặt trong bàn tay của Thiên Chúa tất cả tương lai và sống trong sự quan phòng của Ngài. Qua việc tuyên khấn vâng phục, chúng ta khiêm tốn và biết ơn, cố gắng đáp trả ân ban cao cả của sự vâng phục thảo hiếu mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta qua Thần Khí của Người.
3. Những phương thế giúp chúng ta sống trọn vẹn lời khấn vâng phục
Với các nữ tu Mân Côi, khi tuyên khấn vâng phục chị em dâng hiến cho Thiên Chúa trọn vẹn con người và cuộc đời bao gồm ý chí, tự do cùng với mọi khả năng hành động để Chúa hoàn toàn tự do sử dụng theo ý muốn Ngài (x.HC 23). Một khi cam kết sống vâng phục là chị em bắt đầu hành trình tìm kiếm thánh ý Chúa – Đấng mà chính chị em đã tự do chọn để yêu mến và nên một với Người. Để có thể reo lên như lời Thánh vịnh: “Tuân theo thánh ý Chúa, con vui sướng hơn là được tiền rừng, bạc bể. Con sẽ gẫm suy huấn lệnh Chúa truyền, đưa mắt nhìn theo đường lối Chúa. Con vui thú với thánh chỉ Ngài, chẳng quên lời Ngài phán” (Tv 119, 14-16).
Tuy nhiên, việc tìm kiếm ý Thiên Chúa không phải lúc nào cũng dễ dàng và việc chấp nhận ý Ngài không phải lúc nào cũng thoải mái. Do đó, cách tốt nhất để biết được ý Chúa là cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện, con người được nên một với Thiên Chúa trong tình yêu, tâm trí họ được tan chìm trong Ngài, để dễ dàng phân định và nhận ra đâu là ý Chúa. Vì thế, mỗi chúng ta cần thức tỉnh và luôn thiết lập mối tương quan cá vị thân tình với Thiên Chúa để mọi suy luận và nhận định của chúng ta luôn hướng về Chúa, luôn được Chúa hướng dẫn. Nhờ vậy, chúng ta có thể tránh được những suy luận và nhận định các vấn đề theo ý riêng, theo quan niệm bản thân một cách chủ quan.
Mặt khác, để nhận ra và tuân theo thánh ý Chúa, chúng ta cần khiêm nhường, mở lòng và lắng nghe Lời Người. Như Mẹ Maria, Mẹ chẳng biết Thiên Chúa dẫn Mẹ đi đến đâu nhưng trong mọi hoàn cảnh và mọi biến cố, Mẹ hằng mở lòng và lắng nghe từng dấu chỉ, để rồi suy đi nghĩ lại trong lòng. Nhờ đó, Mẹ nhận ra đường lối của Thiên Chúa đang từng bước thực hiện trong cuộc đời Mẹ. Mẹ đã bước đi trong thánh ý Ngài và trở thành người tôi tớ trung thành. Mẹ đã thưa với Chúa: “Này tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin hãy thực hiện nơi tôi điều Người muốn” (Lc 1,38). Và rồi, Mẹ đã bình an trong niềm tín thác đó.
Do vậy, một khi đã xác định được thánh ý Chúa, chúng ta cần phải trung tín bước đi, vì thực thi thánh ý Chúa là hành trình tu đức cho mọi Kitô hữu, và là sự ràng buộc của các tu sĩ. Bởi lẽ cuộc đời chúng ta không giây phút nào, không một biến cố nào thoát khỏi thánh ý Thiên Chúa, tất cả đã được Người quan phòng yêu thương, dìu dắt và bảo vệ.
Hơn nữa, Đức Cha Tổ phụ Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn khuyên dạy: “khi tuyên khấn vâng phục, chị em dâng hiến ý riêng của mình cho Thiên Chúa và thực hiện sứ mạng được trao cách vui tươi, để làm sống lại trong Giáo Hội sự vâng phục của Đức Giêsu Kitô” (HL 20.2). Ngài còn nhấn mạnh, chị em hãy lấy đức vâng lời làm gương mẫu cách ăn nết ở luôn và phó thác mình hoàn toàn mặc ý các bề trên… Hằng ngày chị em phải làm cho mình nên trọn lành hơn trong sự thực hành đức vâng lời, hãy để cho Bề trên thong dong định đoạt về ta và hãy vâng lời một cách mau mắn luôn, chớ hề lấy lời lẩm bẩm hay là đối lại mà bôi nhọ đức vâng lời. Nếu chị em vâng lời thì hằng được an vui. Chị em hãy lấy con mắt đức tin mà nhìn xem mọi sự, đức tin làm cho ta xem thấy ý Chúa trong các bề trên. Mỗi lần vâng lời là chúng ta đang làm theo ý Chúa và làm cho mọi giây phút đầy dẫy những công phúc[4]. Trái lại, nếu chúng ta có thái độ coi thường quyền bính, phê bình chỉ trích các chỉ thị và quyết định của bề trên, thiếu lòng tôn trọng và biết ơn đối với bề trên, đều là nguy cơ đưa đến lỗi lời khấn Vâng phục. Hãy luôn luôn ở trong tay Đấng chỉ dẫn cho chị em như một dụng cụ, một cục đất mềm mại trong tay người thợ. Chớ có dùng những phương thế quanh quéo để từ chối một địa vị, một việc bổn phận… Khi con bỏ không vâng lời, thì ơn Chúa cũng bỏ con[5].
Như thế, vâng phục không chỉ là chuyên chăm tuân giữ điều này điều kia, nghiêm túc làm theo những gì bề trên truyền lệnh hay đề nghị, nhưng còn đòi một sự từ bỏ liên tục tự thâm sâu, một nỗ lực hãm dẹp ý riêng, một cuộc sát tế chính mình. Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận đã nói: “Nếu khiết tịnh là chết cho nhục dục, thì vâng phục là chết cho ý riêng” (ĐHV 392). Nhờ vâng phục, chúng ta không ngừng hy sinh tính ích kỷ, tự mãn và ý riêng để dành chỗ cho ý muốn của Thiên Chúa. Bởi đó, vâng phục là một hy sinh[6]. Thánh Ignatio Loyola nói: “nếu trong việc tử vì đạo, người ta hy sinh ước vọng muốn được sống, thì trong vâng phục, người ta hy sinh mọi ước vọng. Với Thánh Pachomius: “sống trong vâng phục và chết đi đối với chính mình hằng ngày qua việc kiểm soát các ước vọng tốt hơn chỉ ấp ủ việc tử vì đạo cách tưởng tượng nhiều. Sống trong sự vâng phục trung thành cho tới chết là một cuộc tử vì đạo cao cả hơn chết vì gươm vào một lúc nào đó”.
Cùng với đó, sống vâng phục cũng đòi chị em luôn phải sẵn sàng để được sai đến bất cứ nơi đâu Chúa muốn, sẵn sàng và đầy nhiệt huyết ra đi thi hành bất cứ sứ mạng nào mà các bề trên trao phó với lòng khiêm nhường như một biểu hiện của tình yêu hy sinh. Chúng ta cần phải vượt qua những mỏi mệt, thất vọng để tiếp tục “đi đến cùng” cuộc hành trình. Bởi như tác giả Thư Do Thái đã khuyên nhủ: “Hãy vâng lời cách hân hoan chứ đừng buồn chán, vì như thế sẽ chẳng có lợi gì cho anh em cả” (Dt 13, 17).
Hôm nay hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta – tất cả những người thánh hiến được mời gọi phải sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục như nhân đức tích cực và như nhân đức của người trưởng thành với sự vâng phục của con người có tự do và trách nhiệm, biết sử dụng nội tâm để nhìn Thiên Chúa trong tất cả mọi sự và trong tất cả những hành trình mà chúng ta đi qua, trong đau khổ đời thường và trong tình yêu cho tới khi chết. Mọi biến cố xảy ra, chúng ta cần ghi khắc trong trái tim để suy gẫm và đọc ra điều mà Thiên Chúa muốn nói với chính mình: “Lạy Chúa, Chúa muốn nói với con điều gì?”. Đây là cách tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi sự để chiêm ngắm những công trình kỳ diệu mà Thiên Chúa đã và đang thực hiện trong cuộc đời chúng ta, để không còn là thái độ tự mãn kiêu căng nhưng là ngợi khen Thiên Chúa và tìm vinh danh Người.
Trên tất cả, mỗi chúng ta cần phải trau dồi cho mình một lòng tín thác đặc biệt để sống trong sự mật thiết với Chúa qua cầu nguyện. Công đồng Vaticanô II và các văn kiện gần đây của Giáo hội cũng đã khuyến khích tất cả người thánh hiến hãy tăng cường suy niệm, chiêm ngắm và “sống ẩn mình trong Đức Kitô”.
Ước mong mỗi chị em Mân Côi chúng ta luôn biết soi mình trong mẫu gương vâng phục của Mẹ Maria, không ngừng trau dồi cho chính mình lòng yêu mến và sự tín thác đặc biệt nơi Chúa qua những cuộc gặp gỡ cá vị thâm sâu với Ngài, để nhờ đó, chúng ta có thêm sức mạnh và lòng trung thành, sẵn sàng sống và thực thi những gì Chúa muốn nơi cuộc sống của mình với thái độ vâng phục trong đức tin.
[1] x. Tôma Aquinô, Summa Theologica II-IIæ, q.186, 7-8.
[2] X. Huấn thị về Quyền Bính và Vâng Phục, số 5.10
[3] GARCIA FERNANDEZ, “Maria”, in T. GOFFI – A. PALAZZINI (a cura di), Dizionario Teologico della Vita Consacrata, Ancora, Millano 1994, tr. 945
[4] X. ĐCTP, Vào Nhà Tập làm gì? tr. 74-75
[5] X. GSD I, 472, 474.
[6] GEORGE KAITHOLIL, Đời Sống Thánh Hiến – Những cơ hội và thách đố (do Lm. Đaminh Nguyễn Đức Thông, CSsR chuyển dịch), Nxb. Tôn Giáo, năm 2015, tr. 134.


Tin cùng chuyên mục:
Cùng Mẹ Fatima: Siêng năng lần hạt – Cải thiện đời sống – Tôn sùng trái tim Mẹ
Chuỗi Mân Côi: Chiếc thang thiêng liêng nối đất với trời
Cùng Mẹ Fatima lẫn chuỗi Mân Côi
Cáo phó Bà cố Nữ tu M. Matthia Nguyễn Thị Thái