Hết tình nhẫn nhục và tận tâm giáo huấn

“IN OMNI PATIENTIA ET DOCTRINA”

“Hết tình nhẫn nhục và tận tâm giáo huấn” (2Tm 4, 2)

Giữa thế giới hôm nay, con người đang phải đối diện với một thực trạng đáng báo động. Dường như, không ít người đã bị cuốn theo cái guồng máy của xã hội, họ mải mê chạy đua với thời gian, danh vọng, tiền bạc, quyền lực làm cho chủ nghĩa cá nhân lên ngôi, rồi ước muốn cái gì cũng cần phải nhanh, gọn, nhẹ, đẹp, bền…Tất cả những điều ấy đã khiến con người rơi vào cơn lốc xoáy của tiền – tài – tình – danh vọng… làm họ quên đi điều cần thiết là sống chậm lại, là học và đón nhận mọi điều xảy đến với thái độ kiên nhẫn (nhẫn nhục) hơn, và tận tâm hơn. Bởi thế, việc sống kiên nhẫn hay nhẫn nhục quả là khó và để sống tận tâm, tận lực lại càng khó hơn nữa. Vì “sống kiên nhẫn” đòi người ta phải chấp nhận phần thiệt về mình với thái độ an hòa và vui tươi, nhằm mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Còn “sống tận tâm” thì đòi người ta phải khôn ngoan, chăm chỉ và dành toàn tâm toàn ý vào công việc để đạt được hiệu quả tốt nhất có thể. Từ ý nghĩa trên thì “Hết lòng nhẫn nhục và tận giáo huấn” (2Tm 4, 2) có thể bị coi là một điều gì đó xa xỉ trong thế giới hôm nay chăng? Đặc biệt, với những người đang chạy đua với lối sống hưởng thụ thì điều này còn cần thiết không?

Với xã hội, đó có thể là điều xa xỉ; với con người ngày nay, điều đó thật khó để sống; nhưng với Đức Cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn thì khác, ngài đã chọn điều đó làm châm ngôn sống cho đời Giám mục của mình, để rồi trong suốt đời sống sứ vụ, ngài đã đi đến tận cùng của sự nhẫn nhục và tận tâm ấy trong việc lãnh đạo Giáo phận, trong giảng dạy và trong cách đối xử với mọi người… Có thể nói, sự nhẫn nhục được coi như là nhân  đức trổi vượt hàng đầu trong cuộc đời của ngài, nhất là trong trách nhiệm mục tử, ngài được mọi người quý mến nhờ bởi nhân cách và đời sống đức độ, kiên trì, nhẫn nại và sự tận tâm. Do đó, khi viết về ngài, Cha Bề trên Giuse Phạm Châu Diên đã không tiếc lời ca ngợi: “Đức Cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn không chỉ là một nhà giáo dục khôn ngoan, thông thái, có bản lĩnh, mà còn là một người nhân đức, rất nhẫn nhục và tận tâm trong mọi công việc lớn nhỏ”[1]. Để sống được sự nhẫn nhục và tận tâm ấy, chắc chắn Đức Cha Tổ Phụ phải có một tâm hồn quả cảm mãnh liệt lắm, nghĩa là ngài có một tình yêu quảng đại và thật sự rộng lớn hơn người.  Vì chỉ có tình yêu mãnh liệt mới đưa ngài tới sự kiên nhẫn và tận tâm tận lực hết lòng vì mọi người, vì công việc chung. Thực vậy, nếu không có tình yêu lớn và ơn của Chúa Thánh Thần làm sao Đức Cha có thể vượt qua được những khó khăn thử thách về chính trị, xã hội và tôn giáo thời bấy giờ, nhất là trong việc cai quản và phát triển Giáo Phận Bùi Chu (1936-1948), đặc biệt là khi phải đối diện với những bất trắc của việc phân chia địa phận Bùi Chu – Thái Bình (1936), khi quỹ tài chánh cạn kiệt, vấn đề nhân sự phải giải quyết, nếp sống thiếu văn hóa và nghèo đói của giáo dân sau hậu quả của nạn đói năm Ất Dậu 1946. Quả thật, Đức Cha đã phải kiên nhẫn và chịu đựng biết bao. Dù phải đối diện với bao khó khăn thử thách, ngài vẫn làm việc không biết mệt mỏi. Trong sứ vụ của người mục tử, ngài luôn tận tâm với công việc và với con người, hết lòng lo cho họ được phát triển cả về tri thức, đạo đức và nhân cách. Như lời Đức Ông Mai Đức Vinh đã nhận xét: “Ngài là một vị chủ chăn kiên trì, đã quyết sống đến tận cùng khẩu hiệu Giám mục của ngài là “hết lòng nhẫn nhục và tận tâm giáo huấn”, hầu phụng thờ Thiên Chúa, phục vụ Giáo Hội, hướng dẫn giáo dân và làm vẻ vang dân tộc”[2].

Là hậu thế, chúng ta không có cơ hội được sống gần Đức Cha, nhưng nhìn qua chân dung và đọc lại các bút tích mà ngài để lại, chúng ta nhận thấy ngài là một người Cha – vị Mục Tử hiền từ nhân hậu, đầy khôn ngoan và thánh thiện. Ngài dạy chị em Mân Côi phải biết khôn ngoan và nhẫn nhục để không lỗi đức bác ái với chị em và với người khác: “Chị em phải nhẫn nhục, giúp đỡ nhau, đoàn kết thương yêu như chị em trong một gia đình, phải nhận nhau như con một nhà, vì hết thảy là con cái Mẹ Mân Côi… Chị em làm việc phải đằm thắm, phải tập tính sửa nết sao cho an vui hòa nhã luôn, làm việc với ai thì người ấy cũng thích tính mình, làm việc với ai thì cũng không có gì ái ngại”[3].

 Cổ nhân thường nói: “con nhà tông không giống lông thì cũng giống cánh”; Là những người con của ngài, mỗi chị em Mân Côi cũng được mời gọi sống tâm tình bác ái yêu thương, sự nhẫn nhục và tận tâm đó trong đời sống và sứ mạng giáo dục mà Chúa trao phó cho chúng ta nơi Hội Dòng hay môi trường các Giáo xứ được gửi tới. Để có thể sống được điều này, cần lắm nơi mỗi chị em một tình yêu mãnh liệt và rộng lớn, một lòng bao dung, cảm thông, luôn biết dấn thân và cho đi không mệt mỏi. Nhờ đó, các học trò hay bất cứ ai khi gặp gỡ và tiếp xúc với chúng ta, họ cũng sẽ được biến đổi để trở nên thánh thiện hơn mỗi ngày nếu họ thực sự cảm nhận được tình yêu thương, sự tận tâm nơi chính người thầy của mình.

Ước mong rằng, mỗi chị em con Đức Mẹ Mân Côi luôn tâm niệm và chọn sống trong cuộc đời mình lời mời gọi “Hết lòng nhẫn nhục và tận giáo huấn” này theo tinh thần của Đấng Sáng Lập, hầu sứ vụ của chị em gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp trong chính môi trường mà chúng ta đang sống và phục vụ.

Nt. MP.

[1] Lm. Phạm Châu Diên, Đức cha Hồ Ngọc Cẩn, 1996, tr. 68-70

[2] Đức ông Mai Đức Vinh, Gia sản Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Chí Hòa, cuốn 4, trang 304

[3] Gia sản Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Chí Hoà, cuốn 4, tr. 539