Chạm đến Lòng Thương Xót qua Bí tích Hoà giải

Dịp tĩnh tâm năm là khoảng thời gian để người tu sĩ, cách riêng người nữ tu Mân Côi được ở lại với Chúa lâu giờ hơn, được nghỉ ngơi bên Chúa sau những ngày tháng miệt mài với những bổn phận, những sứ vụ; chúng ta sẽ cảm nghiệm sự hiện diện sống động của Chúa cách sâu hơn, lắng nghe tiếng Chúa nói, kín múc nguồn tình yêu và sức mạnh thiêng liêng, và để Chúa chiếu soi ánh sáng của Ngài vào sâu thẳm trong tâm hồn, hầu được Chúa biến đổi tận căn những gì chưa đẹp lòng Chúa, và để Chúa tiếp thêm sinh lực giúp chúng ta tiếp tục hành trình sứ vụ mà Chúa đã trao qua Hội Dòng.

Với chủ đề: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14), trong suốt tuần tĩnh tâm tôi được đánh động khi suy niệm về các gợi ý của vị giảng huấn qua các trích đoạn Lời Chúa và các mẫu gương Thánh Kinh mà Ngài trưng dẫn. Tuy nhiên, một cảm nghiệm sâu sắc nhất mà tôi được đón nhận chính là Bí tích Hoà giải. Cũng như những người sống đời thánh hiến, tôi lãnh nhận Ơn giao hoà với Chúa mỗi tháng và qua các dịp tĩnh tâm, và hầu như Chúa luôn để lại trong tôi dấu ấn từ toà giải tội. Và hôm nay, tôi muốn đề cập đến tình yêu của Thiên Chúa qua Bí tích Hoà giải như một kinh nghiệm thiêng liêng quý giá.

Vào chiều ngày thứ hai của tuần tĩnh tâm, tất cả chị em tham dự đều sốt sắng chuẩn bị tâm hồn để lãnh bí tích hòa giải. Cũng như những lần xưng tội trước, tôi làm việc ăn năn tội cách trọn và xét mình trước mặt Chúa, nhưng đặc biệt hơn, lần này tôi thinh lặng đặt mình trước mặt Chúa rất lâu, tôi đã ở trước Thánh Thể Chúa cả giờ đồng hồ trước khi vào toà xưng tội. Tôi xin Chúa ban thêm lòng mến giúp tôi can đảm xưng thú tội lỗi trong suốt một năm qua. Tôi cũng xưng cả những tội trong quá khứ còn làm tôi áy náy lương tâm. Trong tâm trí tôi thoáng nảy ra một ý nghĩ: Không biết vị linh mục giải tội có làm tôi hoang mang không, vì có lần tôi xưng tội mà vị linh mục thay vì đưa ra lời khuyên, Ngài lại lên giọng trách và chất vấn tôi. Một chút suy nghĩ nhưng rồi tôi dâng cho Chúa và bước vào toà với tất cả niềm phó thác tin tưởng vào lòng Thương xót của Chúa.

Tôi bắt đầu quỳ xuống và trình bày với vị linh mục tất cả tội lỗi của mình. Tôi đã trình bày cách thành khẩn, sốt sắng. Nghe xong, vị linh mục thay vì đưa ra lời khuyên, Ngài lại nói với tôi:“Con vừa giãi bày cõi lòng với chính Đấng đã chọn gọi con, con đã thân thưa với Chúa về con người thật của con là như thế. Vậy Cha cùng tạ ơn Chúa với con về điều đó”. Ngài hỏi tôi: “Con còn nhớ câu chuyện ‘Người con hoang đàng’ không?” Tôi đáp: “Thưa, con nhớ!” Ngài hỏi: “Khi người con thứ trở về, người cha đã làm gì?” Tới đây, tôi chợt thấy xúc động vô cùng. Tôi trả lời mà giọng run run: “Dạ, người cha chạy ra ôm lấy người con”. Ngài hỏi tiếp: “Rồi sao nữa?” Tôi đáp: “Người cha hôn con”. Lúc này tôi đã khóc. Và vị linh mục nói tiếp: “Người cha còn nói gì con biết không? Ông nói… con Ta đây đã chết mà nay sống lại… Và, Chúa cũng sẽ làm như vậy với con, chỉ cần con khiêm tốn nhìn lên Chúa với tất cả niềm tín thác. Chúa là Đấng nhân từ, Ngài sẽ ôm con vào lòng vì con là người của Chúa”. Sau đó, Ngài ra việc đền tội và ban phép tha tội cho tôi.

Quả thực, tôi đã xúc động và khóc trong toà giải tội, bởi chính giây phút đó tôi cảm nhận rất rõ tình yêu của Chúa; và lời của vị linh mục chính là Lời Chúa đang nói với tôi – rất thiêng liêng và đầy an ủi, tới mức tôi không thể kiềm chế được cảm xúc. Thực sự, có những lỗi lầm mà chúng ta sa đi ngã lại và lần nào cũng xưng thú nhưng có lẽ chỉ tới khi nhắm mắt xuôi tay chúng ta mới chắc là mình không tái phạm nữa. Hình ảnh người con thứ khiến tôi cảm thấy chính Chúa đang ôm tôi vào lòng. Một khoảnh khắc quá thiêng thánh mà hiếm khi tôi có được trong toà giải tội.

Thánh Phêrô với kinh nghiệm được yêu và được tha thứ, Ngài đã thốt lên: “Tình yêu phủ lấp muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4,8). Điều đó mở ra cho chúng ta một niềm xác tín: Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta phạm tội; khi chúng ta ở trong bóng tối, Chúa vẫn trung kiên chờ đợi, Ngài chờ chúng ta trở về và sẵn sàng ôm chúng ta vào lòng, chỉ cần chúng ta sám hối và trung thành với Thiên Chúa. Như thế, tôi học được bài học: Dù tôi yếu đuối, đã thất bại, đã làm tổn thương lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng Người luôn yêu thương cho tôi cơ hội để sửa sai, để được chữa lành, để được tái sinh và lớn lên. Chúng ta có nhiều dịp đi xưng tội, nhưng có bao nhiêu lần chúng ta đến với Chúa với lòng thành khẩn và xác tín? Bao nhiêu lần chúng ta đến toà giải tội với một lòng mến Chúa tha thiết và mong được Ngài yêu thương, hay chúng ta đến chỉ để xin Chúa tha tội mà thôi?

Tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn sự yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, lòng quảng đại của Chúa lớn hơn những gì chúng ta suy nghĩ. Do đó, tôi thiết nghĩ mỗi khi chúng ta mệt mỏi, khô khan, nguội lạnh, chúng ta hãy đi xưng tội; mỗi khi chúng ta phạm tội, muốn tìm sự bình an, chúng ta hãy đi xưng tội; và mỗi khi chúng ta muốn hâm nóng tình yêu với Chúa, chúng ta hãy đi xưng tội. Như thế Bí tích Hoà giải không chỉ là bí tích chữa lành mà còn là phương thế tuyệt hảo để chúng ta làm mới lại tình yêu thuở ban đầu với Đấng đã yêu thương và chọn gọi chúng ta bước theo Người trong đời sống thánh hiến.

Tác giả: M. Têrêsa